Một Vài Điều Căn Bản Về Công Ước Chống Tra Tấn Của Liên Hợp Quốc

 

Khởi đầu với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948), việc cấm tra tấn và “các hình thức đối xử và trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo và hạ nhục” đến nay đã lan tỏa khắp các mạng lưới và các văn kiện khu vực và quốc tế cấu thành luật nhân quyền và nhân đạo [1]. Tuy nhiên, Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo và hạ nhục  [2] (sau đây gọi là “Công ước”) là công ước ràng buộc về mặt pháp lý duy nhất ở tầm quốc tế liên quan đến xóa bỏ tra tấn một cách toàn diện.[3]

Mục tiêu chính của Công ước là đề ra các nghĩa vụ đối với các quốc gia thành viên để thiết lập và thực thi thẩm quyền pháp lý đối với tội tra tấn. Công ước còn đặt ra các nghĩa vụ đáng kể đối với các quốc gia để thực hiện các biện pháp phòng ngừa tra tấn và thực thi việc bồi thường cho các nạn nhân của tra tấn.

Công ước chống tra tấn được chia thành ba phần:

  • Điều 1 đến 16 (Phần I): các điều khoản nội dung quy định các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước cần áp dụng trong pháp luật quốc gia. Đây là những nội dung quan trọng nhất của Công ước.
  • Điều 17 đến 24 (Phần II): thẩm quyền và các phương thức hoạt động của Ủy ban chống tra tấn, cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi Công ước (thông qua việc xem xét báo cáo định kỳ của các quốc gia, nhận khiếu nại của các nạn nhân tra tấn, điều tra tình hình thực tế…)
  • Điều 25 đến 33 (Phần III): các khía cạnh kỹ thuật về ký kết, phê chuẩn Công ước, thủ tục sửa đổi, việc bảo lưu Công ước.

Định Nghĩa Về Tra Tấn

Một điều khoản quan trọng hàng đầu của CAT là đã đưa ra định nghĩa tra tấn tại Điều 1. Theo đó, tra tấn được hiểu là: bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe doạ hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức. Tuy nhiên, Điều này cũng nêu rõ, khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với hoặc có liên quan đến các biện pháp trừng phạt hợp pháp.

Định nghĩa về tra tấn trong Điều 1 CAT hiện được sử dụng như một quy định tham chiếu chung trong luật quốc tế về quyền con người và luật hình sự quốc tế [4] khi đề cập đến vấn đề tra tấn.

Như vậy, có thể thấy các yếu tố cơ bản cấu thành hành vi tra tấn bao gồm:

  • Mức độ nghiêm trọng của sự đau đớn và chịu đựng về thể chất hoặc tinh thần;
  • Hành vi do cơ quan công quyền gây ra hoặc tán đồng;
  • Ý định chủ quan (lỗi cố ý) của chủ thể gây ra hành vi nhằm hướng đến một mục đích cụ thể (để nạn nhân thú tội, để lấy thông tin…);
  • Sự đau đớn hoặc chịu đựng không phải xuất phát từ các chế tài, hình phạt hợp pháp.

Về sau này, trong Bình luận chung số 20 (vào năm 1990) của HRC, Ủy ban này sau khi xác định mục đích của Điều 7 ICCPR là để bảo vệ cả phẩm giá và sự bất khả xâm phạm về thể chất và tinh thần của các cá nhân (đoạn 1), đã làm rõ thêm khái niệm tra tấn. HRC phân biệt giữa các hành động tra tấn và hành động đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục phụ thuộc vào bản chất, mục đích và tính chất nghiêm trọng của hành vi. HRC cho rằng không cần thiết phải đưa ra các ví dụ hay tiêu chí cụ thể để phân biệt giữa các hành động đó (đoạn 4) [5]. Theo Ủy ban, về dấu hiệu khách quan, hành vi tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nêu trong Điều 7 không chỉ là những hành động gây ra những đau đớn về thể xác, mà còn bao gồm những hành động gây đau khổ về tinh thần với nạn nhân. Những hành động đó không chỉ nhằm mục đích để trừng phạt, mà còn nhằm mục đích để giáo dục, rèn luyện một đối tượng nào đó.

Định nghĩa tra tấn nêu trong Điều 1 CAT cũng có hạn chế là không bao gồm những đối tượng và hoàn cảnh mà hành động tra tấn được thực hiện bởi những thủ phạm phi công chức (ví dụ, việc một nhóm phiến quân bắt cóc con tin và tra tấn họ sẽ không thuộc nội hàm của hành động tra tấn theo định nghĩa của CAT). Có một định nghĩa khác về tra tấn được nêu ra gần đây trong Điều 7 (2)(e) Quy chế Rome về Tòa án Hình sự quốc tế (ICC). Theo đó: “Tra tấn” là cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ về thể xác hoặc tinh thần cho người đang bị giam giữ hoặc đang chịu sự kiểm soát của cá nhân bị buộc tội; trừ trường hợp sự đau đớn hoặc đau khổ xuất phát, gắn liền hoặc liên quan đến các hình phạt hợp pháp. [6] Định nghĩa này rõ ràng rộng hơn so với định nghĩa của CAT vì không nhắc đến mục đích của hành vi hay chủ thể là công chức nhà nước liên quan. Ở đây, chủ thể mà Quy chế ICC hướng đến là các cá nhân chứ không phải nhà nước.

Cạnh “tra tấn”, để phân biệt với đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo và hạ nhục (hạ thấp nhân phẩm) (cruel, inhumane, and degrading treatment – được gọi tắt là CIDT), thường được coi là gây ra mức độ đau đớn thấp hơn so với tra tấn, Khoản 1 Điều 16 của CAT cũng đã xác định: Mỗi quốc gia thành viên cam kết ngăn ngừa trên lãnh thổ thuộc quyền tài phán của mình những hành vi đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo và hạ nhục khác mà chưa đến mức tra tấn như định nghĩa ở Điều 1, khi những hành vi này do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức thực hiện, hoặc do xúi giục, đồng tình hay ưng thuận.

Trong thực tế, người ta thường căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của sự đau đớn về thể chất hay tinh thần, cộng với các yếu tố khác (thời gian, không gian…) để phân biệt giữa tra tấn với CIDT.

Cưỡng Chế Hình Sự

Liên quan đến các nội dung, các điều khoản chính yếu liên quan đến việc cưỡng chế hình sự. Điều này đòi hỏi các quốc gia thành viên bảo đảm rằng tra tấn, nỗ lực nhằm tra tấn và đồng phạm tra tấn là các tội phạm phải bị trừng phạt bằng các hình phạt tương xứng, với sự cân nhắc mức độ nghiêm trọng của hành vi. Các quốc gia phải quy định chi tiết thêm pháp luật để trừng phạt tra tấn thực hiện trên lãnh thổ của mình, cũng như bởi các công dân thực hiện bên ngoài lãnh thổ, và nếu thích hợp, công dân của mình là nạn nhân và trong bất kỳ hoàn cảnh nào khác mà họ quyết định không dẫn độ kẻ phạm tội. Họ cũng phải giam giữ bất kỳ kẻ bị tình nghi nào trong lãnh thổ của mình (bất kể nơi phạm tội) và hoặc là giao nộp cho cơ quan truy tố hoặc dẫn độ chúng. Cuối cùng, các quốc gia có nghĩa vụ ngăn chặn tra tấn bằng nhiều biện pháp khác nhau, và bảo đảm cho các nạn nhân quyền khiếu nại về tra tấn.

Cơ Chế Quốc Tế Chống Lại Tra Tấn Và Bảo Vệ Nạn Nhân Của Tra Tấn Và Ngược Đãi

Về hệ thống cơ chế quốc tế (ngoài phạm vi quốc gia) chống lại tra tấn và bảo vệ nạn nhân của tra tấn và ngược đãi, bao gồm:

– Cơ chế của Liên Hợp Quốc: Ủy ban chống tra tấn (cơ chế dựa trên Công ước) và Báo cáo viên đặc biệt về chống tra tấn (thủ tục đặc biệt);

– Cơ chế nhân quyền khu vực;

– Tòa án hình sự quốc tế (ICC);

Tuy nhiên, việc nạn nhân của tra tấn hoặc người đại diện của họ (người thân, luật sư) lựa chọn cơ chế nào cần dựa trên sự những cân nhắc hai yếu tố chủ yếu sau đây:

– Tính pháp lý (còn được gọi là “tính sẵn có”): cơ chế nào có thể sử dụng được đối với một vụ việc cụ thể. Một số cơ chế như Ủy ban chống tra tấn đòi hỏi quốc gia, mà nạn nhân là công dân, phải chấp nhận thẩm quyền của Ủy ban trong việc giải quyết khiếu nại cá nhân (bằng cách đưa ra tuyên bố chấp nhận thẩm quyền nêu tại Điều 22 Công ước). Cơ chế Báo cáo viên đặc biệt thì không đòi hỏi có sự chấp nhận thẩm quyền của quốc gia thành viên, do đó công dân của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể gửi khiếu nại đến Báo cáo viên đặc biệt về tra tấn.

– Tính tiện dụng và hiệu quả: người khiếu nại sẽ lựa chọn cơ chế nào có thể trả lời nhanh hơn, có ảnh hưởng lớn hơn (có trọng lượng hơn), đáp ứng nhu cầu của người khiếu nại (có thể là mong muốn việc tra tấn sẽ không xảy ra, không tiếp tục hoặc không lặp lại; nhu cầu được điều trị, bồi thường, có việc xin lỗi, trừng phạt kẻ có hành vi tra tấn…).

Ngoài các cơ chế quốc tế nêu trên, người khiếu nại cũng có thể liên lạc, cung cấp thông tin cho các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong nước hoặc quốc tế bảo vệ các quyền con người, đặc biệt là các tổ chức tập trung bảo vệ chống lại tra tấn.[7]

Tài liệu tham khảo được sử dụng trong bài:

[1] Xem các điều khoản về cấm tra tấn: Điều 5 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948); Điều 3 chung của các Công ước Geneva (1949); Điều 7 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966); Điều 37 của Công ước về quyền Trẻ em (1989); Điều 3 Công ước châu Âu về bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản (1950); Điều 5 của Công ước liên Mỹ về quyền con người (1978); Điều 5 Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền các dân tộc (1981); Điều 13 của Hiến chương Ả-rập về quyền con người (1994). Một số văn kiện gần đây thiết lập quyền tài phán đối cho các cơ quan quốc tế đối với tội phạm tra tấn đã thực hiện, trong bối cảnh tội phạm chiến tranh hoặc tội ác chống nhân loại: Xem Quy chế Tòa án quốc tế truy tố các nhân vật chịu trách nhiệm vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế trên lãnh thổ Nam Tư cũ từ năm 1991 (1993) và Quy chế Tòa án quốc tế về Rwanda (1994); và Quy chế Rome về Tòa án Hình sự Quốc tế (1998).

[2] Được thông qua bởi Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc số 39/46 ngày 10/12/1984. Có hiệu lực vào ngày 26/6/1984.

[3] Ở cấp khu vực, có hai công ước chuyên biệt về chống tra tấn là: Công ước châu Âu về phòng chống tra tấn và đối xử hoặc trừng phạt tàn ác hoặc vô nhân đạo (1987), đã thiết lập một cơ chế nhằm ngăn chặn tra tấn, và Công ước Liên Mỹ về phòng ngừa và trừng trị tra tấn (1985).

[4] Xem các Quy chế Rome về Tòa án Hình sự quốc tế (1998) và quy chế của các tòa án hình sự quốc tế lâm thời về Nam Tư cũ và Ru-wan-đa.

[5] Mặc dù vậy, trong một số nghiên cứu, và cả trong một số kết luận đưa ra bởi Tòa án châu Âu về quyền con người, người ta đã cố gắng phân biệt giữa hành động tra tấn và các hành động đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục.

[6] Xem toàn văn Quy chế trong sách Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, Khoa Luật – ĐHQGHN, NXB Lao động – Xã hội, 2011, trang 1197 – 1280

[7] Trên quy mô thế giới, bên cạnh hoạt động của các tổ chức NGO về quyền con người lớn như Amnesty International, HRW, FIDH (thường bao gồm cả hoạt động trong lĩnh vực chống tra tấn), có những tổ chức, mạng lưới tổ chức chỉ tập trung vào chống tra tấn hoặc bảo vệ nạn nhân của tra tấn như Hiệp hội Quốc tế phòng chống tra tấn (Association for the Prevention of Torture – APT), Tổ chức thế giới chống tra tấn (World Organisation Against Torture – OMCT), Hội đồng quốc tế tái hòa nhập nạn nhân tra tấn (International Rehabilitation Council for Torture Victims – IRCT ), Liên minh các NGO quốc tế chống tra tấn (Coalition of International NGOs Against Torture – CINAT), REDRESS…