Cộng Đồng LGBT Dùng UPR Để Vận Động Quyền Của Mình

Trong chu kỳ kiểm điểm nhân quyền UPR lần thứ 2 của Việt Nam, vào năm 2014, đã có nhiều nhóm và cá nhân tham gia đóng góp báo cáo cho việc kiểm điểm tình hình của Việt Nam, cũng như vận động cho các vấn đề nhân quyền mà mình quan tâm trong cơ chế này. Chúng tôi đã có dịp gặp gỡ và trao đổi với anh Lương Thế Huy, một cá nhân bền bỉ vận động cho quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) ở Việt Nam, về những trải nghiệm của anh khi tận dụng cơ chế UPR để vận động cho quyền của cộng đồng LGBT.

Điều gì đã khiến anh quan tâm và tham gia vào tiến trình UPR năm 2014?

Năm 2011, tôi tham gia một khóa tập huấn về các cơ chế bảo vệ quyền con người, tổ chức bởi Ủy Ban liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR). Đó là một khóa tập huấn 3 ngày về tất cả các cơ chế nhân quyền chính thức, phi chính thức từ cấp quốc tế, khu vực tới quốc gia. Là một người vừa bắt đầu công việc hoạt động trong lĩnh vực quyền không lâu, đó quả  là một sự choáng ngợp với tôi. Nhưng tới buổi cuối cùng, tôi vẫn thắc mắc rằng công việc của mình là vận đồng quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới (LGBT) và hiện tại thì vẫn chưa có cơ chế đặc thù nào cho nhóm này, nên tôi đã gặp riêng đại diện từ AICHR và trình bày sự bối rối của mình. Người đó đã nói với tôi “UPR, hãy sử dụng UPR” và tôi đi về với ba chữ cái đó trong đầu. Năm 2012, khi biết có một nhóm các mạng lưới tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam đang cùng nhau học và làm để tham gia vào tiến trình UPR của Việt Nam, tôi thấy ngay đây là một cơ hội không thể bỏ qua.

Anh đã tham gia tiến trình UPR năm 2014 như thế nào?

Bắt đầu làm việc cùng một nhóm khá lớn của hàng chục tổ chức, với mục tiêu là một báo cáo UPR chung, nên đôi khi tôi rất tiết kiệm ý kiến của mình. Vì tôi không muốn để mọi người có cảm giác mình đang cố chiếm lấy không gian thảo luận cho vấn đề mà chỉ có mình tôi đại diện là LGBT. Nhiều người chắc cũng còn không hiểu vấn đề của nhóm LGBT là gì, nên kết hợp đó tôi cũng cố gắng giúp nhóm hiểu thêm về cộng đồng LGBT. Có thể gọi là may mắn khi người điều phối tiến trình chung này rất tôn trọng ý kiến của từng cá nhân, tổ chức và cân đối vào báo cáo chung, cũng như các khung làm việc rất khoa học để đảm bảo nếu có đầu tư công sức, thì sẽ có sự phản ánh tương xứng vào kết quả chung.

Một thuận lợi nữa là tôi tiếp cận được khá đầy đủ các dữ liệu nghiên cứu liên quan tới cộng đồng LGBT, nên quá trình viết tôi làm một mình rất tự do, liền mạch. Sau khi hoàn thành báo cáo hợp phần, tôi quyết định sẽ phát triển ra thêm một báo cáo chủ đề riêng về LGBT để nộp thêm. Vì khi viết nháp báo cáo khá dài, phải cắt đi cho phù hợp thành báo cáo hợp phần đưa vào báo cáo chung, nhưng nếu từ đó lại viết kỹ thêm một chút và thay đổi bố cục thì lại có được thêm một báo cáo chủ đề riêng, nên tôi nghĩ nộp cả hai báo cáo như vậy sẽ giúp tăng cường thêm tiếng nói của cộng đồng LGBT trong UPR. Nó cũng giúp tôi có cái “lận lưng” và dễ nói chuyện khi đi tiếp xúc với các chính phủ, tổ chức khác trong các tiến trình sau của UPR.

Năm 2013, qua giới thiệu của bạn bè quốc tế, tổ chức UPR-Info mời tôi tham gia pre-session ở Geneva để tóm tắt vấn đề cho đại diện các phái đoàn, bao gồm cả Việt Nam. Đây là cơ hội để vận động các chính phủ đưa khuyến nghị liên quan tới LGBT cho Việt Nam, nên tôi thấy nó rất quan trọng, nó cũng định hình nên tinh thần các khuyến nghị sẽ xảy ra sau đó ít tháng. Cuối cùng thì cũng có một quốc gia (Chile) đưa khuyến nghị liên quan tới LGBT cho Việt Nam trong phiên kiểm điểm chính thức.

Sang mùa hè năm 2014, tôi lại sang Geneva lần nữa với sự hỗ trợ của một tổ chức LGBT tại Geneva. Lần này là phiên thông qua chính thức UPR của Việt Nam, nên các tổ chức xã hội dân sự có không gian để phát biểu ngay tại Phòng XX. Tôi có 3 phút để phát biểu và đã bày tỏ sự đánh giá cao với việc Việt Nam chấp thuận khuyến nghị liên quan tới LGBT, đồng thời tóm lược lại những vấn đề mà cộng đồng LGBT vẫn còn đang đối mặt vì thiếu sự bảo vệ từ phía pháp luật, chính sách.

Điều gì khiến anh thấy thú vị nhất khi tham gia tiến trình này?

Tiến trình UPR nhìn bên ngoài có vẻ là một công cụ lỏng lẻo, nhưng điều thú vị nhất theo tôi là nó trao rất nhiều cơ hội cho các tổ chức xã hội dân sự có thể tạo ra các thảo luận, đối thoại với các bên, đặc biệt là với chính nhà nước của mình. “UPR là đầu câu chuyện” là có thật với tôi trong gần 2 năm tham gia đó, vì đi đâu cảm giác mình đều có thể bắt đầu câu chuyện về quyền LGBT tại Việt Nam dễ dàng hơn, và với một nhóm “thính giả” rất lớn mà gần như chỉ sợ không có sức mà nói thôi. UPR còn đặc biệt vì với những nhóm mà chưa có cơ chế chính thức nào ở cấp độ quốc tế, như LGBT, thì đây là không gian lớn nhất có thể sử dụng. Điểm cuối cùng theo tôi là ở UPR chúng ta tìm được những đồng minh, “đồng đội”, từ quốc tế như các tổ chức LGBT khác trên thế giới, cho tới chính trong nước khi sau quá trình này, mọi người hiểu được về công việc, thế mạnh của nhau để hợp tác trong tương lai.

Anh đánh giá ảnh hưởng của cơ chế UPR nói riêng, cơ chế bảo vệ nhân quyền của Liên Hợp quốc nói chung đối với việc cải thiện các quyền con người ở Việt Nam như thế nào?

Ảnh hưởng của UPR hay như bất kỳ cơ chế nào khác lên hiện trạng ở Việt Nam là không giống nhau tùy từng chủ đề, phạm vi cho tới cả nhóm thực hiện. Vì vậy ví dụ để kết luận UPR cải thiện gì tới quyền của người LGBT tại Việt Nam, tôi sẽ không dám chắc một mối quan hệ nhân quả trực tiếp nào. Nhưng mỗi người đều có thể chọn nhiều mục tiêu khi tham gia vào UPR, là bạn mong muốn thay đổi một thực hành nào đó của nhà nước, hay bạn muốn cộng đồng mình làm việc ý thức hơn về quyền của họ, hay bạn muốn các bên liên quan, xã hội, cộng đồng quốc tế chú ý tới vấn đề bạn đang làm… để qua đó song song với tiến trình UPR, bạn có thể lên kế hoạch cho việc sử dụng UPR trong các mục tiêu còn lại.

Kể từ năm 2014, anh Lương Thế Huy vẫn tiếp tục các hoạt động khác nhau để vận động cho quyền của người LGBT ở cả trong nước, khu vực và quốc tế. Với những chia sẻ của người đã tham gia trực tiếp trong cơ chế UPR, hy vọng bạn đọc có thể có được một vài câu trả lời cho những câu hỏi liên quan đến cơ chế UPR, cũng như có được những gợi ý để thực hành và vận dụng cơ chế theo cách mà bạn hoặc nhóm của bạn mong muốn.

HRS